Những rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế đối với nhà nhập khẩu

Trong các cuộc giao thương quốc tế ngày nay, thanh toán theo L/C (thư tín dụng) luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa những doanh nghiệp. Thanh toán theo L/C tạo sự thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp. Nhưng những rủi ro vẫn có thể xảy ra nếu các doanh nghiệp không cẩn thận khi thanh toán theo phương thức L/C.

L/C_Incoterms

Rủi ro từ phía ngân hàng mở L/C

Ngân hàng này không đảm bảo khả năng thanh tóan

Giải pháp :
-Yêu cầu mở L/C tại các ngân hàng uy tín, có tên tuổi
-Ngân hàng xác nhận được chỉ đích danh hay là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành L/C tại
nước xuất khẩu

Rủi ro từ phía nhà xuất khẩu

1. Không cung cấp hàng hóa theo đúng quy định của L/C mặc dù nhà nhập khẩu đã mở L/C đã thực hiện ký quỹ ở ngân hàng

Giải pháp:
- Tìm hiểu kỹ bạn hàng
- Tham vấn ngân hàng về lịch sử kinh doanh của đối tác
- Quy định rõ ràng điều khoản phạt trong hợp đồng ngọai thương nếu không thực hiện hợp đồng
- Hai bên ký quỹ tại ngân hàng
- Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như : Thư tín dụng dự phòng, Performance bond, Bank guarantee…2.2 Nhà xuất khẩu không thực hiện đúng những quy định trong L/C:

2. Chậm giao hàng do không thu gom và chuẩn bị kịp

Giải pháp :
- Ước luợng thời gian chuẩn bị hàng và gom hàng
- Thời gian đưa hàng lên tàu
- Thực hiện tu chỉnh L/C nếu thấy không thực hiện được

3. Chuyên chở hàng hóa hóa không đúng quy định của L/C dẫn tới

Chuyển tải hàng hóa

Giải pháp :
- Khảo sát tuyến vận tải ngay sau khi ký hợp đồng
- Thuê tàu chuyến nếu hàng nhiều
- Chọn hãng tàu có thế mạnh về tuyến vận chuyển đó
- Tu chỉnh L/C nếu cần

Trường hợp giao hàng từng phần: Trước hết phải đọc kỹ để nắm vững y/c của L/C
- Cho phép giao hàng làm mấy lần
- Thời gian giao hàng mấy lần
- Khối luợng hàng giao mấy lần

4. Chuẩn bị hàng hóa không đúng yêu cầu của hợp đồng

Giải pháp :
- Đọc kỹ, mua và chuẩn bị hàng đúng yêu cầu của hợp đồng
- Thực hiện tu chỉnh L/C nếu cần

Rủi ro trong thanh toán

1. Do không xuất trình đuợc bộ chứng từ theo đúng quy định L/C

Giải pháp :
- Bố trí nhân sự giỏi về nghiệp vụ ở khâu lập bộ chứng từ
- Làm ăn với đối tác có thiện chí
- Thỏa thuận ngay với nhà nhập khẩu những chứng từ cần xuất trình ngay khi ký hợp đồng ngoại
thuơng
- Nghiên cứu kỹ những rủi ro sai sót thuờng gặp đối với từng chứng từ
- Đọc, nghiên cứu kỹ những quy định của L/C đối với bộ chứng từ
- Thực hiện tu chỉnh L/C nếu cần

2. Tính pháp lý của bộ chứng từ thanh toán

Chứng từ giả, không trung thực, nội dung hàng hóa không phù hợp với chứng từ

Giải pháp:
-Yêu cầu về nội dung và hình thức của chứng từ phải rõ ràng, không chung chung
- Chứng từ phải do các người có thẩm quyền cấp, C/O, I/P, C/Q, Test Report…
- Vận đơn do hãng tàu đứng ra lập và khi xếp hàng hóa có đại diện nhà nhập khẩu kiểm tra giám sát
sự phù hợp lịch chạy tàu và vận đơn, B/L phải ghi rõ hàng đã xếp lên tàu.
- Đề nghị nhà nhập khẩu gửi ngay 1/3 bộ vận đơn gốc thẳng tới nhà nhập khẩu để kiểm tra, đối
chiếu với L/C và hợp đồng
- Chứng chỉ chất luợng do các cơ quan uy tín của NXK hay quốc tế cấp và có sự giám sát,kiểm tra
và ký xác nhận của đại diện nhập khẩu
- Chứng nhận số luợng có sự kiểm tra của đại diện nhà nhập khẩu hoặc đại diện thuơng mại của
Việt Nam

Rủi ro do hãng tàu không tin cậy, do hư hỏng mất mát khi vận chuyển

Giải pháp:
+Giành quyền chủ động thuê tàu
+Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng đại diện tại nước nhà
nhập khẩu
+Mua bảo hiểm hàng hóa

Các doanh nghiệp cần chuẩn bị cho mình những kiến thức về L/C hay lường trước được những rủi ro trong quá trình thanh toán L/C, có thế việc mua bán hàng hoá mới nhanh gọn, đạt hiệu quả cao.

Category : Incoterms 2010

Những điều kiện thương mại mới của Incoterms 2010

Inoterms 2011 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, so với Incoterms 2000, đã loại bỏ bớt 4 điều kiện : DAF; DES; DEQ; DDU. Và thêm 2 điều kiện TM  mới DAT và DAP

DAP DAT

DAT – Delivered At Terminal

GIAO TẠI BẾN TỚI ( BẾN TÀU; SÂN BAY; GA CUỐI CỦA CUỘC HÀNG TRÌNH….)

A. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG DAT

A1. Nghĩa vụ chung của người bán

Người bán phải cung cấp hàng hóa và hóa đơn thương mại phù hợp với hợp đồng mua bán và cung cấp tất cả bằng chứng phù hợp khác mà hợp đồng có thể đòi hỏi.

Bất kỳ chứng từ nào được đề cập trong mục A1-A10 đều có thể là các chứng từ hoặc thông điệp điện tử tương đương nếu được các bên thảo thuận hoặc tập quán quy định.

A2. Giấy phép, kiểm tra an ninh và các thủ tục khác

Nếu có quy định, người bán phải tự chịu rủi ro và chi phí để lấy giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hoặc các giấy phép chính thức khác và làm tất cả tủ tục hải quan để xuất khẩu, để vận tải qua các nước.

A3. Hợp đồng vận tải và bảo hiểm

a)Hợp đồng vận tải

Người bán phải chịu phí tổn ký hợp đồng vận tải để chuyển chở hàng hóa tới bến chỉ định tại cảng hoặc nơi đến thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được một bên cụ thể hoặc không quyết định được theo tập quán, thì người bán có thể chọn một bến tại cảng hoặc nơi đến thỏa thuận phù hợp nhất với mục đích của mình.

b)Hợp đồng bảo hiểm

Người bán không có nghĩa vụ với người mua về ký kết hợp đồng bảo hiểm. Tuy vậy, nếu người mua yêu cầu và chịu rủi ro và chi phí (nếu có), người bán phải cung cấp cho người mua những thông tin cần thiết để mua bảo hiểm.

A4. Giao hàng

Người bán phải dỡ hàng khỏi phương tiện vận tải và sau đó phải giao hàng bằng cách đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua tại bến chỉ định như tại mục A3 a) ở cảng hoặc nơi đến thỏa thuận, vào ngày hoặc trong thời hạn quy định.

A5. Chuyển rủi ro

Người bán phải chịu tất cả rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa cho đến khi hàng hóa được giao theo mục A4 trừ trường hợp mất mát hoặc hư hỏng trong các trường hợp quy định tại điều B5.

A6. Phân chia chi phí

Người bán phải trả:

a)     ngoài các chi phí phát sinh từ mục A3 a), mọi chi phí liên quan tới hàng hóa cho đến khi hàng đã được giao theo mục A4; ngoại trừ những chi phí người mua trả theo mục B6; và

b)     chi phí về thủ tục hải quan, nếu có, cần thiết để xuất khẩu cũng như tất cả các thứ thuế, lệ phí và chi phí khác phải trả khi xuất khẩu và chi phí vận chuyển qua bất kỳ nước nào trước khi giao hàng theo mục A4.

A7. Thông báo cho người mua

Người bán phải thông báo cho người mua các thông tin cần thiết để người mua có thể áp dụng các biện pháp thông thường cần thiết để nhận hàng.

A8. Chứng từ giao hàng

Người bán phải cung cấp cho người mua, bằng chi phí của mình chứng từ để người mua có thể nhận hàng theo mục A4/B4.

A9. Kiểm tra-đóng gói, bao bì-ký mã hiệu

Người bán phải trả các chi phí về việc kiểm tra (như kiểm tra chất lượng, cân, đo, đếm) cần thiết để giao hàng theo quy định ở mục A4, kể cả các phí tổn cho bất kỳ việc kiểm tra nào trước khi gửi hàng theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu.

Người bán phải, bằng chi phí của mình, đóng gói hàng hóa, trừ khi theo thông lệ của ngành hàng, hàng hóa được gửi đi không cần đóng gói. Người bán có thể đóng gói hàng hóa phù hợp với phương thức vận tải, trừ khi người mua đã thông báo cho người bán yêu cầu cụ thể về đóng gói trước khi hợp đồng được ký kết. Bao bì phải được ghi ký mã hiệu thích hợp.

A10. Hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan

Nếu có quy định, người bán, theo yêu cầu của người mua, do người mua chịu rủi ro và phí tổn, phải giúp đỡ người mua để lấy các chứng từ và thông tin kể cả thông tin an ninh mà người mua cần để nhập khẩu và/hoặc vận tải đến địa điểm cuối cùng.

Người bán phải hoàn trả cho người mua tất cả chi phí và lệ phí mà người mua đã chi để lấy hoặc giúp đỡ để lấy được các chứng từ và thông tin theo mục B10.

B. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI MUA TRONG DAT

B1. Nghĩa vụ chung của người mua

Người mua phải thanh toán tiền hàng như quy định trong hợp đồng mua bán.

Bất kỳ chứng từ được đề cập trong mục B1-B10 đều có thể là các chứng từ hoặc thông điệp điện tử tương đương nếu được các bên đồng ý hoặc tập quán quy định.

B2. Giấy phép, kiểm tra an ninh và các thủ tục khác

Nếu có quy định, người mua phải tự chịu rủi ro và phí tổn để lấy được giấy phép nhập khẩu hoặc các giấy phép chính thức khác và làm thủ tục hải quan để nhập khẩu hàng hóa.

B3. Hợp đồng vận tải và bảo hiểm

a) Hợp đồng vận tải

Người mua không có nghĩa vụ đối với người bán về ký kết hợp đồng vận tải

b) Hợp đồng bảo hiểm

Người mua không có nghĩa vụ đối với người bán về ký kết hợp đồng bảo hiểm

Tuy vậy, khi người bán yêu cầu, người mua phải cung cấp cho người bán các thông tin cần thiết để mua bảo hiểm.

B4. Nhận hàng

Người mua phải nhận hàng khi hàng hóa được giao theo mục A4.

B5. Chuyển rủi ro

Người mua phỉa chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa kể từ khi hàng đã được giao theo mục A4. nếu

a)     người mua không hoàn thành nghĩa vụ của mình theo mục B2 thì người mua phải chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng cuả hàng hóa xảy ra từ việc đó, hoặc

b)     người mua không thông báo theo mục B7, thì người mua chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa kể từ ngày thỏa thuận hoặc ngày cuối cùng của thời hạn thỏa thuận cho việc giao hàng, với điều kiện hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng.

B6. Phân chia chi phí

Người mua phải trả:

a)     tất cả các chi phí liên quan đến hàng hóa kể từ khi hàng được giao theo mục A4

b)     các chi phí phát sinh mà người bán đã chi nếu người mua không hoàn thành nghĩa vụ của mình theo mục B2 hoặc không thông báo theo mục B7 với điều kiện là hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng; và

c)     nếu có, tất cả các chi phí thủ tục hải quan cũng như thuế, lệ phí và các chi phí khác phải trả khi nhập khẩu hàng hóa.

B7. Thông báo cho người bán

Người mua phải, khi quyết định được về thời gian trong khoảng thời gian thỏa thuận và/hoặc địa điểm nhận hàng tại bến chỉ định, thông báo cho người bán đầy đủ về việc đó.

B8. Bằng chứng giao hàng

Người mua phải chấp nhận chứng từ giao hàng do người bán cung cấp phù hợp với mục A8.

B9. Kiểm tra hàng hóa

Người mua phải trả các chi phí cho việc kiểm tra bắt buộc trước khi gửi hàng, ngoại trừ việc kiểm tra thei yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu.

B10. Hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan

Người mua phải thông báo cho người nhận một cách kịp thời các yêu cầu về thông tin an ninh để người bán có thể thực hiện mục A10.

Người mua phải trả hoàn toàn cho người bán tất cả chi phí và lệ phí mà người bán đã chi để cung cấp hoặc giúp đỡ để cung cấp chứng từ và thông tin theo mục A10.

Nếu có quy định, theo yêu cầu của người bán, do người bán chịu rủi ro và phí tổn, người mua phải cung cấp hoặc giúp đỡ người bán một cách kịp thời để lấy các chứng từ và thông tin kể cả thông tin an ninh mà người bán cần để vận tải, xuất khẩu hàng hóa và vận tải qua nước khác.

DAP – Delivered At Place

GIAO HÀNG TẠI ĐỊA ĐIỂM ĐẾN

A.    NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN

A1. Nghĩa vụ chung của ngừơi bán

Người bán phải cung cấp hàng hóa và hóa đơn thương mại phù hợp với hợp đồng mua bán và cung cấp tất cả bằng chứng phù hợp mà hợp đồng có thể đòi hỏi.

Bất kỳ chứng từ được để cập trong mục A1-A10 đều có thể là các chứng từ hoặc thông điệp điện tử tương đương nếu đựơc các bên thỏa thuận hoặc tập quán quy định.

A2. Giấy phép, kiểm tra an ninh và các thủ tục khác

Nếu có quy định, người bán phải tự chịu rủi ro và chi phí để lấy bất kỳ giấy phép xuất khẩu hoặc giấy phép chính thức khác và phải thực hiện mọi thủ tục hải quan cần thiết để xuất khẩu hàng hóa và vận tải qua các nứơc trước khi giao hàng.

A3. Hợp đồng vận tải và bảo hiểm

a)     Hợp đồng vận tải

Người bán phải, bằng chi phí của mình ký hợp đồng vận tải để chuyên chở hàng hóa tới nơi đến chỉ định hoặc tới một địa điểm thỏa thuận, nếu có, tại nơi đến chỉ định. Nếu không thỏa thuận đựơc một địa điểm đến cụ thể hoặc không quyết định đựơc theo tập quán, thì người bán có thể chọn một địa điểm tại nơi đến phù hợp nhất với mục đích của mình.

b)     Hợp đồng bảo hiểm

Người bán không có nghĩa vụ với người mua về ký hợp đồng bảo hiểm. Tuy vậy, nếu người mua yêu cầu và chịu rủi ro và chi phí, nếu có, người bán phải cung cấp cho người mua những thông tin cần thiết để mua bảo hiểm.

A4. Giao hàng

Người bán phải giao hàng bằng cách đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của ngừơi mua trên phương tiện vận tải chở đến và sẵn sàng để dỡ tại địa điểm đã thỏa thuận, nếu có, tại nơi đến vào ngày hoặc trong thời hạn giao hàng đã thỏa thuận.

A5. Chuyển rủi ro

Người bán phải chịu tất cả rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa cho đến khi hàng hóa đựơc giao theo mục A4 trừ trường hợp mất mát hoặc hư hỏng trong các trường hợp quy định tại điều B5.

A6. Phân chia chi phí

Người bán phải trả:

a)     ngoài các chi phí phát sinh từ mục A3 a), mọi chi phí liên quan tới hàng hóa cho đến khi hàng đã được giao theo mục A4; ngoại trừ những chi phí người mua trả theo mục B6;

b)     chi phí dỡ hàng tại nơi đến mà người bán phải chịu theo hợp đồng vận tải; và

c)     chi phí về thủ tục hải quan; nếu có, cần thiết để xuất khẩu cũng như tất cả các thứ thuế, lệ phí và chi phí khác phải trả khi xuất khẩu và chi phí vận chuyển qua bất kỳ nước nào trước khi giao hàng theo mục A4.

A7. Thông báo cho người mua

Người bán phải thông báo cho người mua các thông tin cần thiết để người mua có thể áp dụng các biện pháp thông thừơng cần thiết để nhận hàng.

A8. Chứng từ giao hàng

Người bán phải chịu phí tổn cung cấp cho người mua chứng từ để người mua có thể nhận hàng theo mục A4/B4.

A9. Kiểm tra – đóng gói, bao bì – ký mã hiệu

Người bán phải trả các chi phí về việc kiểm tra (như kiểm tra chất lượng, cân, đo , đếm) cần thiết để giao hàng theo quy định ở mục A4 kể cả các phí tổn cho bất kỳ việc kiểm tra nào trước khi gửi hàng theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nứơc xuất khẩu.

Người bán phải, bằng chi phí của mình, đóng gói hàng hóa, trừ khi theo thông lệ của ngành cụ thể, hàng hóa được vận chuyển không cần đóng gói. Người bán có thể đóng gói hàng phù hợp với phương thức vận tải, trừ khi người mua thông báo cho người bán yêu cầu cụ thể về đóng gói trước khi hợp đồng đựơc ký kết. Bao bì phải được ghi ký mã hiệu thích hợp.

A10. Hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan

Nếu có quy định, người bán, theo yêu cầu của người mua do người mua chịu rủi ro và phí tổn, phải giúp đỡ người mua để lấy các chứng từ và thông tin kể cả thông tin an ninh mà người mua cần để nhập khẩu và/hoặc vận tải đến địa điểm cuối cùng.

Người bán phải hòan trả cho người mua tất cả chi phí và lệ phí phát sinh trong trừơng hợp người mua đã chi để lấy hoặc giúp đỡ để lấy được những chứng từ và thông tin theo mục B10.

B. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI MUA

B1. Nghĩa vụ chung của người mua

Người mua phải thanh tóan tiền hàng như quy định trong hợp đồng mua bán.

Bất kỳ chứng từ được đề cập trong mục B1-B10 đều có thể là các chứng từ hoặc thông điệp điện tử tương đương nếu được các bên đồng ý hoặc tập quán quy định.

B2. Giấy phép, kiểm tra an ninh và các thủ tục khác

Nếu có quy định, ngừơi mua phải, tự chịu rủi ro và bằng chi phí của mình lấy giấy phép nhập khẩu hoặc các giấy phép chính thức khác và làm thủ tục hải quan để nhập khẩu hàng hóa.

B3. Hợp đồng vận tải và bảo hiểm

a)     Hợp đồng vận tải

Người mua không có nghĩa vụ đối với người bán về ký kết hợp đồng vận tải.

b)     Hợp đồng bảo hiểm

Người mua không có nghĩa vụ đối với người bán về ký kết hợp đồng bảo hiểm. tuy vậy, nếu người bán yêu cầu, người mua phải cung cấp cho người bán các thông tin cần thiết để mua bảo hiểm.

B4. Nhận hàng

Người mua phải nhận hàng khi hàng hóa được giao theo mục A4.

B5. Chuyển rủi ro

Người mua phải chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa kể từ khi hàng đã được giao theo mục A4. Nếu

a)     người mua không hòan thành nghĩa vụ của mình theo mục B2 thì người mua phải chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa xảy ra từ việc đó, hoặc

b)     người mua không thông báo theo mục B7, thì người mua chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa kể từ ngày thỏa thuận hoặc ngày hết hạn của thời hạn thỏa thuận cho việc giao hàng, với điều kiện là hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng.

B6. Phân chia chi phí

Người mua phải trả:

a)     tất cả các chi phí liên quan đến hàng hóa kể từ khi hàng được giao theo mục A4

b)     tất cả các chi phí dỡ hàng cần thiết để nhận hàng từ phương tiện vận tải tại điểm nơi đến chỉ định, trừ khi những chi phí này do ngừơi bán chịu theo hợp đồng vận tải;

c)     các chi phí phát sinh nếu người mua không hoàn thành nghĩa vụ của mình theo mục B2 hoặc không thông báo theo mục B7 với điều kiện hàng đã đựơc phận biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng; và

d)     nếu có, tất cả các chi phí thủ tục hải quan cũng như thuế, lệ phí và các chi phí khác phải trả khi nhập khẩu hàng hóa.

B7. Thông báo cho người bán

Người mua phải, khi quyết định đựơc thời gian trong khoảng thời gian thỏa thuận và/hoặc địa điểm nhận hàng tại nơi đến chỉ định, thông báo cho người bán đầy đủ về việc đó.

B8. Bằng chứng giao hàng

Người mua phải chấp nhận chứng từ giao hàng do người bán cung cấp theo mục A8

B9. Kiểm tra hàng hóa

Người mua phải trả các chi phí cho việc kiểm tra bắt buộc trước khi gửi hàng, ngoại trừ việc kiểm tra theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu

B10. Hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan

Người mua phải thông báo cho người bán một cách kịp thời các yêu cầu về thông tin an ninh để người bán có thể thực hiện mục A10.

Người mua phải hoàn trả cho người bán tất cả chi phí và lệ phí mà người bán đã chi để lấy hoặc giúp đỡ để lấy đựơc những chứng từ và thông tin theo mục A10.

Nếu có quy định, theo yêu cầu của người bán, do người bán chịu rủi ro và phí tổn, người mua phải giúp đỡ người bán một cách kịp thời để lấy hoặc giúp đỡ để lấy các chứng từ và thông tin kể cả thông tin an ninh mà người bán cần để vận tải, xuất khẩu hàng hóa và vận tải qua nước khác.

Muốn ra chơi ở bất cứ sân nào cũng đều phải thạo luật nơi đó. Các Doanh nghiệp Việt Nam tham gia thị trường thế giới thì bắt buộc phải hiểu các quy tắc chung của quốc tế. Incoterms 2010 là phiên bản thứ 8 có hiệu lực từ 01.01.2010 của ICC. Do vậy các Doanh nghiệp Việt Nam từ nay sẽ phải cẩn thận hơn nhiều với các điều kiện giao hàng mới theo thông lệ quốc tế mang tên Incoterms 2010., đặc biệt là hai điều khoản  DAT và  DAP

Category : Incoterms 2010

Thương mại quốc tế: Hết sức thận trọng với các điều khoản mới của Incoterms 2010

Các điều khoản mới của Incoterms 2010 do Phòng Thương mại quốc tế (ICC) ban hành, được nhiều nhà kinh doanh xuất nhập khẩu mong đợi, đã chính thức có hiệu lực từ 1//1/2011. Với sự phát triển của trao đổi thương mại quốc tế, các điều khoản Incoterms 2000 đã trở nên lỗi thời, cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp .

INCOTERMS 2010

Phí, dịch vụ và phân chia rủi ro trong Incoterms 2010

Do có nhiều thay đổi trong thực tiễn buôn bán quốc tế nên Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã đưa ra một số điều khoản mới. Sự thay đổi lần này gồm: hủy bỏ một số điều khoản cũ và ban hành một số điều khoản mới; quy định các chi phí bốc dỡ, các vấn đề liên quan đến an ninh, an toàn và thông tin điện tử hóa các chứng từ …

ICC giới thiệu 2 điều kiện giao hàng mới : DAP (giao hàng đến nơi được chỉ định ) và DAT (giao hàng đến điểm cuối cùng). Các điều kiên giao hàng được gọi là nhóm D trong Incoterms 2000 được bỏ hoàn toàn, trừ điều kiện DDP (giao hàng tất cả các loại thuế đã được thanh toán).

Danh sách các điều kiện giao hàng mới của Incoterms 2010 gồm 11 điều kiện giao hàng, trong đó 7 điều kiện áp dụng cho vận tải đa phương tiện( EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP) và 4 điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển (FAS, FOB, CFR, CIF).

Incoterms 2010 là công cụ chủ yêú trong giao dịch quốc tế. Sử dụng Incoterms 2011 tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo các hợp đồng mua bán. Việc sử dụng điều kiện giao hàng khác nhau thì các vấn đề phân chia về phí, dịch vụ và rủi ro cũng khác nhau nên các bên trong hợp đồng phải đặc biệt chú ý đến việc quy định sử dụng điều kiện giao hàng nào cho thich hợp .

DAT (giao hàng đến bến cuối cùng, bến đến cuối cùng theo thỏa thuận)

Điều kiện này thay cho điều kiện DEQ (giao hàng đến cầu cảng đến) trong Incoterms 2000. Trong Incoterms 2011, khác với điều kiện DAP, phí dỡ hàng từ phương tiện vận chuyển theo DAT mới là do người Bán chịu. Ngoài chịu trách nhiệm về phương tiện vận tải chính, người Bán tổ chức, trả tiền dỡ hàng tại nơi đến và chuyển hàng đến tận bến cuối cùng theo thỏa thuận. Di chuyển rủi ro về hàng hóa được chuyển khi hàng được đặt dưới quyền sở hữu của người Mua tại bến cuối cùng mà hai bên thỏa thuận . Người Mua chịu trách nhiệm làm các thủ tục nhập khẩu và thanh toán các khoản thuế và các lệ phí nhập khẩu.

DAP (giao hàng đến nơi đến theo thỏa thuận )

Điều kiện giao hàng này thay thế 3 điều kiện giao hàng DAF (giao hàng qua biên giới), DES(giao trên tàu tại cảng đến) và DDU (giao hàng thuế chưa trả). DAF (Incoterms 2000) bị các doanh nghiệp kêu ca phàn nàn cho rằng điều kiện này nguy hiểm vì người Mua không thể kiểm tra được tình trạng của hàng hóa trước khi nhận hàng tại biên giới.

Do vây, điều kiện mới DAP trong Incoterms 2011 điều chỉnh tất cả các trường hợp mà theo đó, người Bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa sang cho người Mua trên phương tiện chưa được dỡ hàng, nói cách khác là tất cả các trường hợp trước đây trong phạm vi điều chỉnh của DAF, DES, DDU. Người Bán sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa và chịu mọi phí tổn , rủi ro đến tận điểm giao hàng do hai bên thỏa thuận. Hàng hóa được chuyển sở hữu sang người Mua tại nơi đến, trên phương tiện vận chuyển (chưa dỡ hàng). Người Mua tổ chức việc dỡ hàng, làm mọi thủ tục nhập khẩu và thanh toán mọi các khoản thuế và lệ phí liên quan đến nhập khẩu.

FOB (giao hàng trên mạn tàu)

Điều kiện nay được sử dụng rất nhiều trước đây nhưng bây giờ bị loại bỏ, nó chỉ còn được sử dụng trong việc giao hàng rời. Như vây, việc giao hàng bằng container không đươc phép sử dụng điều kiện giao hàng này .

ICC cũng đơn giản hóa việc phân chia các loại phí bốc, dỡ để tránh các khoản chi không cần thiết. Hiện nay, các chi phí này thường trả hai lần, do người Bán và người Mua cùng trả. Trong các rủi ro khi sử dụng Incoterms, có những lỗi do nhầm lẫn nhưng cũng có lỗi do lợi dụng khi vận dụng. Để cho rõ ràng hơn, từ nay các điều kiện giao hàng sẽ được kèm theo các giải thích và sơ đồ để đơn giản hóa việc sử dụng.

ICC cũng có một số điều chỉnh trong các quy tắc của mình nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh và an toàn cho hàng hóa. Trách nhiệm của người Bán và người Mua trong Incoterms 2011 được xây dựng dựa trên quy tắc về lãnh thổ. Nói một cách khác là mỗi doanh nghiệp liên quan trong các thương vụ giao dịch có trách nhiệm tôn trọng các luật lệ về an ninh hiện hành trong khu vực giao hàng và nhận hàng, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật nước mình, bất kể điều kiên giao hàng là điều kiện nào .

ICC cũng đề cập đến việc sử dụng rộng rãi các phương tiện thông tin điện tử. Ngày nay, việc trao đổi thông tin thường thực hiện bằng điên tử. Do vây, phiên bản mới của Incoterms – Incoterms 2011 – có mục đích là ưu tiên sao cho trao đổi thông tin được nhanh chóng, khắc phục một số khiếm khuyết trong luật pháp của một số nước đang phát triển .

Category : Incoterms 2010

Tại sao nên sử dụng URDG 758

URDG 758 (Uniform Rules for Demand Guarantees – Bộ quy tắc thống nhất về bảo lãnh trả tiền ngay) là bản sửa đổi đầu tiên sau 18 năm kể từ ngày bản gốc URDG 458 có hiệu lực thi hành. Là một bộ quy tắc rõ ràng hơn, chính xác hơn và toàn diện hơn, bảo đảm sự cân bằng hợp lý về lợi ích của các bên; URDG 758 có những đổi mới chưa từng có ở bộ quy tắc khác của ICC.

urdg 758

Đối với các giao dịch L/C, hầu hết các ngân hàng trên thế giới đều thống nhất dẫn chiếu UCP 600 làm quy tắc điều chỉnh. Tuy nhiên, đối với các giao dịch bảo lãnh, các ngân hàng hiện nay vẫn chưa nhất trí sử dụng một bộ quy tắc thống nhất nào cả. Một số ngân hàng, chẳng hạn, các ngân hàng ở các nước Ả Rập chỉ phát hành bảo lãnh và chấp nhận bảo lãnh đối ứng tuân thủ theo luật quốc gia của mình, bất kể luật quốc gia đó có điều chỉnh giao dịch bảo lãnh hay không, trong khi một số ngân hàng khác sử dụng URDG hay UNCITRAL (United Nations Convention on Independent Guarantees and Letters of Credit – Công ước Liên hiệp quốc về thư tín dụng dự phòng và bảo lãnh độc lập); các ngân hàng ở Mỹ và một số quốc gia khác – nơi thư bảo lãnh không được sử dụng – thường sử dung L/C dự phòng như một công cụ bảo lãnh và quy tắc áp dụng có thể là UCP 600, ISP98, UNCITRAL.
Các bảo lãnh dẫn chiếu luật/quy tắc điều chỉnh là quốc gia hay một nguồn luật/quy tắc không được phổ biến rộng rãi rất dễ không được người thụ hưởng chấp nhận, nhất là khi người thụ hưởng không rành hoặc không biết nguồn luật/quy tắc đó quy định như thế nào về bảo lãnh. Do vậy, việc các ngân hàng hướng tới sử dụng một nguồn luật hay một quy tắc thống nhất, chẳng hạn như URDG 758, để điều chỉnh giao dịch bảo lãnh là cần thiết.
URDG 758 (Bản sửa đổi 2010) nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong số các ngân hàng, người sử dụng và tất cả các thành viên của cộng đồng bảo lãnh và được đánh giá là bộ quy tắc rõ ràng hơn, chính xác hơn, toàn diện hơn, bảo đảm cân bằng hợp lý về lợi ích của các bên, do vậy, so với các nguồn luật/quy tắc khác, chắc chắn URDG 758 sẽ tiếp tục chứng tỏ là một nguồn luật điều chỉnh đáng tin cậy và được sử dụng rộng rãi hơn khác trong hoạt động bảo lãnh quốc tế.
Với URDG 758 các bên tham gia giao dịch bảo lãnh đều có thể hưởng lợi từ sự cân bằng về lợi ích mà bộ quy tắc mới này mang lại, đó là:
Người thụ hưởng có quyền nhận được thanh toán khi xuất trình yêu cầu đòi tiền hợp lệ mà không cần bên bảo lãnh phải hỏi xin ý kiến chấp thuận của bên có nghĩa vụ.
Bộ quy tắc mới  URDG 758 cũng khắc phục tình huống không công bằng đối với người thụ hưởng trong trường hợp ngày chấm dứt hiệu lực rơi vào ngày mà hoạt động kinh doanh của bên bảo lãnh bị gián đoạn do sự kiện bất khả kháng.
Vai trò độc lập của bên bảo lãnh được diễn tả bằng những từ ngữ rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn, và quan trọng hơn, nó được diễn tả bằng ngôn ngữ chứng từ. URDG 758 kỳ vọng bên bảo lãnh sẽ hành động cẩn trọng. Chẳng hạn, bên bảo lãnh chỉ có thể từ chối một yêu cầu đòi tiền bất hợp lệ trong vòng 5 ngày làm việc của ngân hàng bằng cách gửi một thông báo từ chối nêu tất cả các bất hợp lệ; nếu không thì bên bảo lãnh sẽ bị mất quyền tuyên bố yêu cầu đòi tiền bất hợp lệ và buộc phải thanh toán.
URDG 758 cũng ghi nhận quyền được thông báo của bên có nghĩa vụ về diễn biến của các gia đoạn chính trong chu kỳ hiệu lực của bảo lãnh.
Vì những lợi ích nêu trên, các ngân hàng Việt Nam và các bên tham gia bảo lãnh nên lựa chọn URDG 758 là bộ quy tắc điều chỉnh giao dịch bảo lãnh.

Category : Incoterms 2010

So sánh Incoterms 2000 và Incoterms 2010

Incoterms 2010 có hiệu lực ngày 01/01/2011 với những sửa đổi, bổ sung, cập nhật so với những thay đổi trong thương mại quốc tế. Bài viết dưới đây giới thiệu một số điểm giống nhau và khác nhau giữa Incoterms 2010 và Incoterms 2011 nhằm giúp người làm công tác xuất nhập khẩu kịp thời cập nhật các quy định mới và vận dụng linh hoạt các tập quán thương mại quốc tế.

Incoterms 2010

Điểm giống nhau của Incoterms 2000 và Incoterms 2010

- Có 07 điều kiện thương mại: EXW, FAS, FOB, CFR, CIF, CPT, CIP
- Khuyến cáo áp dụng phương tiện thủy đối với các điều kiện: FAS, FOB, CFR, CIF
- Áp dụng với các loại phương tiện vận tải và vận tải đa phương thức đối với các điều kiện: CPT, CIP, DDP
- Cả Incoterms 2000 và Incoterms 2010 đều không phải là luật. Các bên có thể áp dụng hoàn toàn, hoặc có thể áp dụng một phần, nhưng khi áp dụng ghi rõ trong hợp đồng ngoại thương, những điều áp dụng khác đi nhất thiết phải mô tả kỹ trong hợp đồng ngoại thương

Điểm khác nhau giữa Incoterms 2000 và Incoterms 2010

STT

Tiêu chí so sánh

Incoterms 2000

Incoterms 2010

1 Số các điều kiện thương mại 13 điều kiện 11 điều kiện
2 Số nhóm được phân 04 nhóm 02 nhóm
3 Cách thức phân nhóm Theo chi phí vận tải và địa điểm chuyển rủi ro Theo hình thức vận tải: thủy và các loại phương tiện vận tải
4 Nghĩa vụ liên quan đến đảm bảo an ninh hàng hóa Không quy định Có qui định A2/B2; A10/B10
5 Khuyến cáo nơi áp dụng Incoterms Thương mại quốc tế Thương mại quốc tế và nội địa; sử dụng trong các khu ngoại quan
6 Quy định về chi phí có liên quan Không thật rõ Khá rõ: A4/B4 & A6/B6
7 Các điều kiện thương mại DES, DEQ, DAF, DDU  Không
8 Các điều kiện thương mại: DAT, DAP Không
9 Nơi chuyển rủi ro của điều kiện FOB, CFR, CIF Lan can tàu Hàng xếp xong trên tàu
10 Quy định phân chia chi phí khi kinh doanh theo chuỗi (bán hàng trong quy trình vận chuyển) Không

Category : Incoterms 2010

Lý do ra đời Incoterms 2010

Incoterms là một bộ các quy tắc nhằm hệ thống hóa các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng phổ biến bởi các doanh nhân trên khắp thế giới. Đến nay, sau 7 lần sửa đổi, Incoterms 2010 đã chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2011.

incoterms 2010

Incoterms 2000 còn tồn tại nhiều điểm yếu

Sau 2,5 năm nghiên cứu trên 2000 công ty xuất khẩu lớn trên thế giới có liên hệ chặt chẽ với ICC (International Chamber of Commerce – Phòng thương mại quốc tế) về sử dụng Incoterms 2000, các chuyên gia rút ra:

Nhiều điều kiện thương mại Incoterms rất ít áp dụng: DAF, DES, DEQ, DDU

Nhiều điều kiện thương mại không rõ, dễ nhầm lẫn dẫn tới khó lựa chọn; tranh chấp trong trả các loại phí liên quan đến giao nhận.

Sự kiện khủng bố diễn ra tại Hoa Kỳ 11/9/2001

+ Nghĩa vụ thông tin về hàng hóa

+ Từ 01/07/2012: Tất cả hàng hóa container vận chuyển vào Hoa Kỳ phải được soi chiếu

Năm 2008, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật mới quy định 100% container hàng hóa chở vào Hoa Kỳ phải được soi chiếu. Biện pháp an ninh mới này sẽ là một thách thức rất lớn cả về công việc lẫn tài chính

Từ 01/07/2012, các container chở hàng đến Hoa Kỳ dù là được chuyên chở trực tiếp hoặc gián tiếp (chuyển tải qua một cảng biển thứ 3) đều phải được soi chiếu trước. Quy định nhằm đảm bảo an ninh dây chuyền logistics toàn cầu này của Hoa Kỳ sẽ đặt ra cho Hải quan các nước phải trang bị máy soi container tại các cảng biển quốc tế có xuất hàng container đi Hoa Kỳ

Quy tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của Hoa Kỳ đã được xây dựng mới

Kể từ năm 2004, nhiều chuyên gia làm luật thương mại của Hoa Kỳ phối hợp với các chuyên gia của ICC hoàn thiện và xây dựng Incoterms 2010. Có thể nói nội dung của Incoterms 2010 có nhiều điểm tương đồng nhất với Bộ quy tắc: “The 2004 revision of the United States’ Uniform Commercial Code” so với Incoterms 1990 hay Incoterms 2000.

Quy tắc bảo hiểm hàng hóa

Quy tắc bảo hiểm hàng hóa chuyên chở mới có hiệu lực từ 01/01/2009 được hoàn thiện từ Quy tắc ban hành năm 1982.

Chứng từ điện tử

Sự thay thế nhanh chóng các chứng từ giấy tờ bằng chứng từ điện tử cũng là nguyên nhân thúc đẩy Incoterms được điều chính đúng chu kỳ 10 năm/ lần

Category : Incoterms 2010

Một số thay đổi chính của Incoterms 2010 so với Incoterms 2000

Incoterms 2010 là phiên bản thứ 8 của một bộ các quy tắc thương mại quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành, được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Incoterms quy định các điều khoản về giao nhận hàng hoá, trách nhiệm của các bên mua, bán về thanh toán tiền vận tải, chi phí hải quan, bảo hiểm hàng hoá, tổn thất và rủi ro trong quá trình vận chuyển, thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá.
Lý do chính dẫn đến sự ra đời của Incoterms 2010 là: 10 năm đã qua kể từ khi Incoterms 2000 có hiệu lực, môi trường kinh doanh toàn cầu, tập quán thương mại quốc tế, vận tải, công nghệ thông tin, vấn đề an ninh… đã có nhiều thay đổi. Cụ thể như sự phát triển và mở rộng của các khu vực tự do thuế quan, sự gia tăng của việc sử dụng các phương tiện liên lạc điện tử, chứng từ điện tử, những mối quan tâm về an ninh hàng hóa sau sự kiện 11/9 tại Mỹ… Mục tiêu của ICC là luôn luôn ban hành những điều khoản thương mại quốc tế phù hợp với tập quán thương mại và trình độ phát triển về thương mại. Do đó khi môi trường kinh doanh toàn cầu thay đổi, Incoterms cần phải được sửa đổi, bổ sung và cập nhật cho phù hợp với tình hình mới.
Nhằm kịp thời cập nhật các quy định mới, nâng cao nhận thức và khả năng vận dụng linh hoạt các tập quán thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết dưới đây dưới thiệu một số nội dung thay đổi chính của Incoterms 2010 so với Incoterms 2000.
Incoterms 2010

1. Thay đổi về số nhóm và các điều điện về giao hàng

Theo Incoterms 2000, nếu phân chia theo đặc điểm của các điều kiện thương mại quốc tế, 13 điều khoản được chia làm 4 nhóm, gồm:

- Nhóm E: EXW

- Nhóm F: FCA, FAS, FOB

- Nhóm C: CFR, CIF, CPT, CIP

- Nhóm D: DAF, DES, DEQ, DDU, DDP

Nếu phân chia theo phương thức vận tải, 13 điều khoản được chia thành 2 nhóm, gồm:

- Vận tải đa phương thức: EXW, FCA, CPT, CIP, DAF, DDU, DDP

- Vận tải đường biển/thủy nội địa: FAS, FOB, CFR, CIF, DES, DEQ

Theo Incoterms 2010, chỉ còn 11 điều khoản. Nếu phân chia theo đặc điểm của các điều kiện thương mại quốc tế, gồm:

- Nhóm E: EXW

- Nhóm F: FCA, FAS, FOB

- Nhóm C: CFR, CIF, CPT, CIP

- Nhóm D: DAP, DAT, DDP

Nếu phân chia theo phương thức vận tải, gồm:

- Nhóm các điều khoản về giao hàng đa phương thức: EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP.

- Nhóm các điều khoản về giao hàng bằng đường biển hoặc đường thủy nội địa: FAS, FOB, CFR, CIF.

Như vậy, trong Incoterms 2010, 3 điều khoản DAF, DES, DEQ đã được thay thế bởi DAP và DDU đã được thay thế bởi DAT.

DAT (Delivered at Terminal… named place of destination): người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi đã đặt hàng hóa (đã được dỡ xuống khỏi phương tiện vận tải chở hàng đến) tại các terminal (là địa điểm cuối cùng để tập kết hoá của các các phương tiện thiết bị chuyên chở bao gồm cả đường bộ / thủy / sắt / không) hoặc tại địa điểm đến quy định.

DAP (Delivered at Place… named place of destination): người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng hóa (hàng hóa chưa được dỡ khỏi phương tiện vận tải) được đặt dưới quyền định đoạt của người mua tại địa điểm đến quy định.

2. Phí THC (Terminal handling charge – Phí bến bãi)

Đối với một số điều khoản về giao hàng trong đó người bán có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải và trả cước phí vận tải như CIP, CPT, CFR, CIF…, có khả năng phí THC tại nơi đến đã được tính vào trong giá bán. Tuy nhiên, trong thực tế thời gian vừa qua có nhiều trường hợp tại nơi đến người mua bị buộc phải trả khoản phí THC này tại nơi đến. Như vậy người mua đã phải thanh toán tiền hai lần cho một khoản phí. Chính vì vậy người mua hiện nay rất quan tâm đến các thỏa thuận giữa người bán và người chuyên chở. Do đó trong Incoterms 2010 đã làm rõ hơn về trách nhiệm trả các khoản phí này, Incoterms 2010 quy định người bán phải thông báo cho người mua về những khoản phí nào đã bao gồm trong cước phí chuyên chở khi thỏa thuận với người chuyên chở. Nếu trong trường hợp theo thông lệ cước phí đã bao gồm phí THC tại nơi đến, người bán không có quyền tính thêm khoản phí này cho người mua nữa.

3. Liên quan đến an ninh hàng hóa

Hiện nay sau sự kiện 11/9 tại Mỹ, vấn đề an ninh hàng hóa và phương tiện vận tải được đặt lên hàng đầu. Nhiều quốc gia hiện nay gia tăng kiểm tra an ninh về hàng hóa, phương tiện vận tải, các nước quy định các bên có liên quan đến hàng hóa phải có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về an ninh hàng hóa để được phép xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy có sự khác biệt giữa “các thủ tục hải quan” và “các chức năng liên quan đến an ninh”. Một số quốc gia có sự phân biệt về luật giữa hai hoạt động này. Tuy nhiên trong các phiên bản Incoterms trước đây không đề cập rõ ràng về trách nhiệm và sự phối hợp giữa người mua và người bán liên quan đến việc cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa. Do đó, Incoterms 2010 quy định cả hai bên (người mua và người bán) có nghĩa vụ phải cung cấp các thông tin về hàng hóa cho các bên thứ ba có liên quan nếu họ yêu cầu để có thể thông quan về mặt an ninh cho lô hàng.

4. Bảo hiểm

Bảo hiểm chỉ liên quan đến điều khoản CIP và CIF, theo đó người bán phải mua bảo hiểm cho người mua. Theo Incoterms 2000, người bán chỉ phải tuân thủ theo đúng nghĩa vụ được quy định trong Incoterms mà không tính đến sự thay đổi của bộ điều khoản bảo hiểm mới ra đời sau khi Incoterms 2000 được ban hành. Do đó, Incoterms 2010 quy định khi tiến hành mua bảo hiểm người bán phải tuân theo những thay đổi của bộ điều khoản bảo hiểm mới.

5. Chứng từ điện tử

Incoterms trước quy định các bên được phép sử dụng trao đổi thông tin bằng phương tiện điện tử, cũng như cho phép sử dụng chứng từ điện tử nếu hai bên đồng ý sử dụng. Tuy nhiên, do nhận thức được tầm quan trọng cũng như tốc độ truyền tải thông tin bằng phương tiện điện tử, Incoterms 2010 quy định người mua và người bán có quyền sử dụng chứng từ điện tử hoặc trao đổi bằng phương tiện điện tử nếu hai bên đồng ý hoặc theo thông lệ hai bên được quyền sử dụng phương tiện điện tử. Theo thông lệ ở đây có ý nghĩa rất lớn, bởi vì trong một số trường hợp một bên không có quyền từ chối trao đổi thông tin bằng phương tiện điện tử, chẳng hạn như bằng email.

6. Thay đổi đối với điều khoản FOB

Theo Incoterms 2000, điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua là khi hàng hóa qua khỏi lan can tàu tại cảng xếp hàng. Nay Incoterms 2010 quy định cụ thể hơn về thời điểm này, đó là khi hàng hóa phải thực sự được xếp lên tàu tại cảng xếp hàng quy định.

7. Phạm vi áp dụng Incoterms

Incoterms 2010 có thể được áp dụng cho cả thương mại trong nước và thương mại quốc tế.

Category : Incoterms 2010

Lỗi thường gặp trong thực tiễn ứng dụng Incoterms 2010

Incoterms 2010 đã đi vào thực tiễn của các bản Hợp đồng mua bán (ngoại thương & thủy nội địa). Trong thực tiễn ứng dụng bộ quy tắc này có thể thấy nhiều lỗi của người làm xuất nhập khẩu mà xuất phát chính từ việc chưa am hiểu Incoterms 2010

Incoterms 2010

Các lỗi chủ yếu của người làm nhập khẩu khi ứng dụng Incoterms 2010

•Điều khoản giao hàng không phù hợp

•Không nhất quán giữa các điều khoản giao hàng và các chứng từ cần thiết

•Không nhất quán về logic (phương thức vận chuyển x điều khoản giao hàng x chứng từ)

Các lỗi chủ yếu của người làm xuất khẩu

•L/C không phù hợp với hợp đồng mua bán – do người nhập khẩu đưa ra yêu cầu sai cho ngân hàng

•L/C không phù hợp với hợp đồng mua bán – lỗi/khác biệt do khâu xử lí chứng từ của ngân hàng

•Người xuất khẩu tin rằng L/C phản ánh đúng hợp đồng mua bán mà không kiểm tra kỹ – coi thường vấn đề!

•Thường không hiểu hết tầm quan trọng của những chứng từ được yêu cầu

•Không hiểu rõ các yêu cầu của UCP 600 và thông lệ chuẩn của các ngân hàng trong thương mại quốc tế

•Rủi ro đáng kể về sự khác biệt chủ yếu trong chứng từ do bên thứ ba đưa ra

•EXW, FCA, FOB, FAS… hợp đồng vận chuyển là giữa người mua và công ty vận tải – vậy tôi có thể lấy được chứng từ vận tải sẽ thu phí sau hay không?

Vì vậy, để phòng tránh rủi ro, tránh phát sinh phụ phí (THC, phí chứng từ, phí tắc nghẽn cảng,..) trong giao nhận hàng hóa XNK, người làm xuất nhập khẩu cần am hiểu Incoterms 2010 và những vấn đề cần lưu ý khi lựa chọn điều khoản giao nhận Incoterms.

Category : Incoterms 2010

Incoterms và thực tiễn hợp đồng

Incoterms chuẩn hóa thực tiễn hợp đồng bằng cách tạo điều kiện cho các bên

·Incoterms sử dụng phần lớn từ ngữ quan trọng;

·Thoả thuận cách hiểu thông dụng nhất đối với những từ ngữ quan trọng, và

·Tránh hiểu lầm trong khi sử dụng những từ ngữ này.

Tuy nhiên vẫn tồn tại những vấn đề khi ứng dụng Incoterms do:

·Thực tiễn thương mại thường không thống nhất

·Các biến thể của một từ ngữ quan trọng cơ bản có thể không phù hợp hay không rõ nghĩa hoàn toàn;

·Incoterms không được chính xác hoàn toàn; và, hay

·Các bên vô tình lựa chọn sai điều kiện Incoterms.

Incoterms 2010

Yêu cầu của việc giải thích các “từ ngữ quan trọng” trong Incoterms

Những từ viết tắt như FCA, FOB và CIF có thể được xem như là những “từ ngữ quan trọng” trong Incoterms, những từ này, khi được sử dụng, đã xác lập một số quyền và nghĩa vụ. Nhưng những từ ngữ quan trọng này không thể bị hiểu lầm trừ phi chúng được gán một nghĩa cụ thể do nguyên tắc giải thích nào đó. Chỉ tuân theo cách giải thích không thể thiếu được theo Incoterms. Trong trường hợp thiếu sự giải thích xác đáng, các thương gia có thể gặp sự hiểu lầm lớn.

Việc những từ ngữ quan trọng trong phần trình bày của Incoterms có thống nhất với việc thực tiễn thương mại hay không có thể gây ra sự tranh cãi. Kể từ phiên bản Incoterms đầu tiên năm 1936, mọi nỗ lực đã được thực thi để đảm bảo sự thống nhất này. Nhưng một số cách diễn đạt được sử dụng bởi các thương gia không đúng với Incoterms. Có một vài ví dụ: điều kiện CFR thường xuất hiện trong các trường hợp đồng mua bán là C&F. Trong một số trường hợp, CFR được ghi thành C+F. Nhưng tốt hơn, vì mục đích rõ ràng, khi sử dụng điều kiện này nên viết theo các văn bản chính thức.

Trong một số trường hợp các bên có thể lựa chọn một cách diễn đạt không thống nhất với bất kỳ điều kiện nào được trình bày trong Incoterms. Một ví dụ: FOB+I. ở đây rõ ràng là các bên cố ý cộng thêm nghĩa vụ mua bảo hiểm cho người bán. Nhưng không rõ ràng đây có phải là loại nghĩa vụ tương tự mà người ta có thể tìm thấy trong điều kiện CIF hay CIP không. Hậu quả là tranh chấp có thể phát sinh khi thêm nghĩa vụ mua bảo hiểm cho người bán khi nó xuất hiện trong một điều kiện khác.

Trong phần lời nói đầu của ấn phẩm Incoterms khác nhau luôn có thêm phần chú ý được nhấn mạnh rằng, các thương nhân có thể giải thích một cách chính xác nếu có thể được, họ muốn gì khi họ sử dụng một điều kiện khác hay thêm một điều kiện nào đó vào một điều kiện thương mại quốc tế.

Thực tiễn thông dụng nhất

Các thực tiễn thương mại không giống nhau ở mọi nơi trên thế giới. Do đó, điều Incoterms có thể làm là không ngoài việc phản ánh thực tiễn thông dụng nhất. Trong nhiều trường hợp, không thể đưa vào trong Incoterms những gì thực sự xảy ra liên quan tới việc bốc hàng và dỡ hàng khỏi các phương tiện chuyên chở. Dù sao, như đã nói, trong Incoterms 2000 có nhiều cố gắng hơn để hỗ trợ người sử dụng Incoterms trong vấn đề này. Đặc biệt, theo điều kiện FCA khi hàng hóa được tiếp nhận, phần sửa đổi đã làm rõ nghĩa vụ của người bán phải bốc hàng lên phương tiện gom hàng của người mua, và nghĩa vụ của người mua phải dỡ hàng khi hàng được giao để vận chuyển tiếp trên phương tiện đến của người bán.

Tuy nhiên người ta không thể tìm thấy một thực tiễn thương mại thống nhất về mặt bốc dỡ hàng lên tàu theo điều kiện FOB và dỡ hàng khỏi tầu theo điều kiện CFR và CIF. Ở đây, loại hình tầu vận tải và phương tiện bốc dỡ hàng hóa ở mỗi cảng biển sẽ quyết định việc mở rộng nghĩa vụ của người bán theo điều kiện FOB và loại hợp đồng người bán phải chấp nhận vì lợi ích của người mua theo điều kiện CFR và CIF.Do đó, trước khi hợp đồng mua bán được ký kết, các bên nên tìm hiểu một cách chắc chắn xem liệu có bất kỳ tập quán riêng biệt nào của cảng nơi hàng hóa được bốc lên theo điều kiện FOB hay không, bởi vì những tập quán này rất khác nhau ở những cảng khác nhau và có thể gây bất ngờ cho bên không được báo trước. Ví dụ, nếu hàng hóa được bốc lên một chiếc tầu ở cảng của nước người bán, và theo điều kiện FOB người mua phải chỉ định một chiếc tầu, anh ta nên xác định một cách chắc chắn việc phát sinh thêm những chi phí nào có thể được kèm vào giá cước vận tải theo điều kiện FOB và liệu có thể có thêm chi phí nào mà anh ta phải gánh chịu do việc bốc hàng lên tầu hay không.

Điểm FOB truyền thống – là điểm mà rủi ro và chi phí sẽ chuyển từ người bán sang người mua khi hàng hóa qua lan can tầu tại cảng bốc hàng – bị chỉ trích là không phản ánh những gì thực sự diễn ra tại các cảng biển. Tuy nhiên, kể từ những năm 1700, nhiều tập quán của cảng và các thực tiễn thương mại đã được phát triển xung quanh khái niệm điểm FOB. Cho dù một cách diễn đạt khác có lẽ cũng phản ánh tốt hơn thực tiễn thương mại ngày nay, sự lầm lẫn khó có thể được ngăn chặn một cách hoàn toàn nếu một khái niệm cơ bản như là điểm FOB truyền thống bị thay đổi. Vì những lý do như thế, điểm FOB được quyết định giữ lại trong Incoterms 2000.

Trong điều kiện EXW, thực tiễn thương mại khá thống nhất ở chỗ người bán hỗ trợ người mua những vấn đề liên quan tới bốc hàng lên phương tiện gom hàng của người mua, hoặc là mang hàng hóa ra bệ bốc dỡ hàng hay bốc hàng hóa lên phương tiện. Tuy nhiên, trong EXW, người bán không có nghĩa vụ phải hỗ trợ, anh ta chỉ có mỗi việc phải đảm bảo hàng hóa sẵn sàng cho người mua. Nếu người mua muốn đảm bảo tăng nghĩa vụ của người bán, anh ta phải đồng ý với người bán tại thời điểm hợp đồng được ký kết. Đôi khi điều này được thực hiện bằng cách thêm từ “loaded” (bốc hàng) sau điều kiện EXW (“EXW loaded”). Tuy nhiên, phần thêm như vậy không rõ ràng liệu rủi ro của người bán do mất mát hay tổn thất hàng hóa có bị tăng thêm hay không khi thêm công việc bốc hàng. Các bên nên làm rõ liệu khi thêm từ “loaded” (bốc hàng) có nghĩa là “rủi ro bốc hàng thuộc về người mua” hay “rủi ro bốc hàng thuộc về người bán” (“loaded at seller’s risk” và “loaded at buyer’s risk”).

Nếu muốn người bán gánh chịu rủi ro trong những công việc bốc hàng, các bên nên soạn hợp đồng sử dụng điều kiện thương mại FCA, kể từ Incoterms 2000, điều kiện FCA đã được làm rõ là người bán phải bốc hàng lên phương tiện vận tải do người mua chỉ định. Việc lựa chọn điều kiện FCA thay thế việc thêm từ “bốc hàng” sau điều kiện EXW có thể giúp cho các bên giải thích, một cách hoàn toàn xác đáng, điều kiện thương mại, ngược lại bất kỳ phần tự ý bổ sung nào cũng có thể gây ra nguy hiểm cho họ. Tuy nhiên, khi sử dụng FCA thay thế EXW cũng có thể chuyển nghĩa vụ thông quan hàng hóa từ người mua sang người bán, điều mà các bên có thể hay không muốn.

Incoterms 2010

Đóng hàng vào container

Các tập quán buôn bán thường khó thay đổi, ngay cả khi lý do lựa chọn điều kiện thương mại thay đổi và đòi hỏi phải có sự lựa chọn rất khác. Ví dụ, công việc bốc hàng lên tầu thường ngày đã thay đổi. Kể từ cuối những năm 60, những khó khăn riêng đã nảy sinh trong thương mại vận chuyển bằng đường biển, nơi công ten nơ hóa (diễn ra khi hàng hóa được chuẩn bị và chứa trong những công ten nơ trước khi tầu đến) đã làm cho điểm FOB truyền thống hầu như không còn thích hợp. Do đó các điều kiện FOB, CFR và CIF được nhắc đi nhắc lại là chỉ sử dụng khi giao hàng hóa cho người vận tải bằng cách giao thẳng hàng lên tầu – đặc biệt là vượt qua lan can tầu – điều này là hoàn toàn không diễn ra khi hàng hóa được đóng vào công ten nơ.

Khi hàng hóa được đóng vào công ten nơ, hàng hóa hoặc là được gom lại tại cơ sở của người bán (một thực tiễn chung khi hàng hóa được người bán đóng toàn bộ trong công ten nơ thành nguyên công ten nơ, gọi là FCL – containers) hay được giao cho một trạm nhận hàng, nơi hàng hóa được đóng vào công ten nơ để vận chuyển lên tầu sau này lên thuyền trở công ten nơ (trường hợp bình thường khi hàng hóa không đồng nhất không xếp đủ một công ten nơ, gọi là LCL – containers).

Các bên có thể nghĩ rằng những khác biệt này không quan trọng lắm và tin rằng có thể tự giải quyết những vấn đề này trong bất kỳ trường hợp nào. Điều này đúng. Người bán nên lưu ý không nhận rủi ro sau khi đã chuyển hàng cho người vận tải mà người mua chỉ định. Điều này đặc biệt quan trọng khi người bán không có trách nhiệm đưa ra lời hướng dẫn về việc bảo quản và coi sóc hàng hóa, ví dụ như khi người vận tải chỉ có nghĩa vụ nhận hướng dẫn từ đối tác ký hợp đồng là người mua.

Lợi ích được bảo hiểm trong điều kiện FOB

Kiểm tra xem hàng hóa được giao nhận để vận tải như thế nào

Cũng có trường hợp các bên có thể chọn cho phương thức vận tải khác một điều kiện thương mại dành cho vận tải đường biển. Họ rất sai lầm khi tin rằng nếu một điều kiện thương mại dùng cho vận tải đường biển thì cũng phải thích hợp cho các phương thức vận tải khác.

So sánh giữa FCA, FOB, CPT, CFR, CIP và CIF

Tuy nhiên, các bên luôn luôn được khuyến cáo cần phải có sự kiểm tra xem hàng hóa được giao, trên thực tế, để vận chuyển như thế nào, bằng cách này sẽ tránh được việc chọn một điều kiện làm cho người bán vẫn chịu rủi ro sau khi hàng hóa đã ngoài vòng kiểm soát của người bán một cách trực tiếp hay gián tiếp. FOB chỉ nên được sử dụng hạn chế trong những trường hợp hàng hóa thực sự có ý định (a) được bốc qua lan can tầu (b) có thể được chứa trong thùng đối với hàng lỏng hay (c) được đổ từ các thùng chứa (silô) khi hàng hóa được chở ở dạng lỏng khối lượng lớn. Trong mọi trường hợp khác, FOB không nên được sử dụng. Thay thế bằng FCA là điều kiện thích hợp nhất để chỉ ra vị trí thực sự mà hàng hóa được chuyển giao để vận chuyển.

Theo điều kiện C thì người bán ký hợp đồng vận chuyển, dường như không liên quan tới việc liệu rủi ro có được chuyển khi hàng hóa vượt qua lan can tầu hay sớm hơn khi chúng được nhận bởi người vận tải tại điểm giao nhận hàng hay không. Tuy nhiên, nếu người bán muốn tránh chịu nhiều rủi ro sau khi đã giao hàng hóa để vận chuyển cho đến khi bốc hàng lên boong tầu, anh ta nên tránh hạn chế sử dụng CFR hay CIF và thay thế bằng sử dụng CPT hay CIP, khi đó rủi ro đã được chuyển khi hàng được giao cho người vận tải. Đề cập tới vận tải bằng công ten nơ, việc giao hàng như vậy thường hay diễn ra tại điểm nhận hàng của người vận tải trước khi tầu đến. Nếu mất mát hay hư hỏng hàng hóa diễn ra trong thời gian người vận tải chịu trách nhiệm, có thể có trong thực tế, thì vấn đề sẽ trở nên khó xác định một cách chắc chắn rằng liệu điều đó diễn ra trước hay sau khi hàng hóa vượt qua lan can tầu. Đây là một lý do khác để có thể lựa chọn điều kiện FCA, CPT hay là CIP, khi đó rủi ro, mất mát hay hư hỏng hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua khi hàng hóa được giao cho người vận tải.

Trách nhiệm của người bán trong việc cung cấp hàng thay thế

Cần lưu ý rằng ngay cả khi người bán có khả năng yêu cầu người bảo hiểm bồi thường trong trường hợp hàng bị mất hay hư hỏng vẫn không giải thoát người bán khỏi trách nhiệm thực hiện hợp đồng của mình: anh ta vẫn được yêu cầu phải cung cấp hàng thay thế hàng hóa đã mất hay bị hư hỏng, ví dụ như trong trường hợp anh ta vẫn chịu rủi ro trong khoảng thời gian giao hàng hóa để vận chuyển cho đến khi hàng hóa vượt qua lan can tầu.

Chi phí bốc hàng

Người mua thường cho rằng việc họ chấp nhận giao hàng tại một điểm trong nội địa có thể đưa đến cho họ một nghĩa vụ nhiều hơn so với việc giao hàng qua lan can tầu, như phải trả thêm chi phí trả cho các phương tiện bốc hàng cho cảng hay cho người vận tải (phí bốc hàng, vận chuyển, THC). Tuy nhiên, điều này có thể dễ dàng được khắc phục bằng một thoả thuận giữa các bên hoặc là chia sẻ chi phí hay người bán trả hoàn toàn chi phí (ví dụ như bằng cách bổ sung điều kiện “người bán trả 50% chi phí bốc hàng để vận chuyển” hay “chi phí bốc dỡ thuộc về người bán”).

Kiểm tra chứng từ phải có theo yêu cầu một điều kiện Incoterms

Có trường hợp các bên không để ý tới rằng những điều kiện vận tải bằng đường biển đòi hỏi những chứng từ cụ thể – như là vận đơn có thể chuyển nhượng được hay còn gọi là giấy gửi hàng đường biển – thường hoàn toàn không thích hợp khi sử dụng loại hình vận tải khác. Vận đơn có thể giao dịch được không được sử dụng cho các phương thức vận tải khác bởi vì việc mua bán hàng hóa khi hàng đang trên đường vận chuyển – thông thường đòi hỏi có một vận đơn mà quyền sở hữu của hàng hóa có thể chuyển được cho người mua kế tiếp – không xảy ra khi hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt hay hàng không. Điều này có nghĩa là, ví dụ nếu người bán ở London, bán hàng hóa theo điều kiện CIF Yokohama khi hàng hóa được vận chuyển bằng đường hàng không từ London đến Yokohama, anh ta sẽ tự đặt mình vào vị trí bất lợi là không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo điều kiện CIF là xuất trình một vận đơn hàng đã xếp lên tầu cho người mua. Hơn thế, anh ta có thể trở thành nạn nhân của sự sơ xuất của mình do việc anh ta đã trao cho người mua khả năng từ chối một thương vụ lỗ bằng cách quy kết cho người bán vi phạm hợp đồng do không xuất trình chứng từ đúng theo điều kiện CIF Incoterms.

Category : Incoterms 2010

Sự khác biệt giữa Incoterms 2010 và Incoterms 2000

Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) thỉnh thoảng lại rà soát bộ Incoterms để đảm bảo rằng những qui tắc trong đó phản ánh và đáp ứng được những thông lệ và xu hướng thương mại hiện hành. Incoterms 2010 là lần sửa đổi thứ tám đối với Incoterms kể từ khi bộ qui tắc này ra đời vào năm 1936.

Incoterms 2010

Bộ qui tắc Incoterms 2010 có những thay đổi cần lưu ý so với Incoterms 2000:

1. Bỏ 4 điều khoản (DAF, DES, DEQ và DDU) và đưa vào 2 điều khoản mới (DAP – Delivered at Place và DAT – Delivered at Terminal).

2. Incoterms 2010 chính thức có hai loại: – (1) các qui tắc áp dụng cho bất cứ phương thức vận tải nào, và (2) các qui tắc áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa (Incoterms 2000 có 4 loại).

3. Incoterms 2010 chính thức thừa nhận rằng những qui tắc này có thể sử dụng cả trong thương mại quốc tế và thương mại nội địa (nếu phù hợp). Điều khoản EXW được nói rõ là chỉ phù hợp cho thương mại nội địa.

4. Nêu rõ tham chiếu đến việc sử dụng “các phương tiện ghi chép điện tử có giá trị tương đương “, nếu như các bên đồng ý như vậy, hoặc đó là tập quán thương mại.

5. Incoterms 2010 sửa đổi điều khoản bảo hiểm để phản ánh những thay đổi đối với Các điều khoản bảo hiểm chuẩn (Institute Cargo Clauses (theo những thay đổi gần đây đối với các điều khoản bảo hiểm LMA/IUA2 vào năm 2009).

6. Phân bổ các nghĩa vụ tương ứng của các bên trong việc cung cấp hoặc hỗ trợ để lấy được các chứng từ và thông tin cần thiết nhằm thông quan liên quan đến an ninh.

7. Trong Incoterms 2010 trách nhiệm đối với các khoản phí xếp hàng tại ga/trạm được phân bổ rõ ràng.

8. Bao gồm nghhĩa vụ “mua” hàng hóa để phản ánh những thông lệ hiện nay trong mua bán hàng theo dây chuyền (mua bán hàng đã được xếp lên tàu – có nghĩa là hàng đã ở trên boong tàu).

Category : Incoterms 2010

TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ KHẢO THÍ

Trường Đại học Ngoại Thương - 91 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
Tel: (84-4) 38356800 (ext: 332, 339) Fax: (84-4) 37753746